Rối loạn ngôn ngữ là gì?

1. Rối loạn ngôn ngữ là gì?

     Rối loạn ngôn ngữ (RLNN) là một rối loạn sức khỏe tâm thần, một dạng di chứng não, do vùng não bộ đảm nhiệm chức năng ngôn ngữ bị suy yếu khi cơ thể mắc phải những bệnh lý hay có những tổn thương khó hồi phục tại não bộ. Trẻ mắc rối loạn ngôn ngữ sẽ gặp khó khăn trong việc trao đổi thông tin, giao tiếp với mọi người xung quanh bằng lời nói. Có thể nói khó, nói ngọng, khó trình bày mong muốn bản thân, không hiểu lời nói,…

2. Nguyên nhân

     Nguyên nhân của rối loạn ngôn ngữ chưa xác định rõ ràng, nhiều yếu tố được cho là góp phần gây ra rối loạn này.

     Rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng đến dây thanh âm, cơ, dây thần kinh, và các cấu trúc khác trong cổ họng. Nguyên nhân gây ra có thể bao gồm:

  • Tổn thương dây thanh âm
  • Tổn thương não
  • Yếu cơ
  • Yếu cơ hô hấp
  • Đột quỵ
  • Polyp hoặc nốt trên dây thanh âm
  • Liệt dây thanh âm

     Trẻ mắc phải những rối loạn sức khỏe tâm thần khác hoặc có bệnh nội khoa cũng có thể gây rối loạn ngôn ngữ:

  • Rối loạn phổ Tự kỷ
  • Rối loạn tăng động giảm chú ý
  • Đột quỵ
  • Ung thư vòm miệng
  • Ung thư thanh quản
  • Bệnh Huntington
  • Chứng mất trí
  • Bệnh xơ cứng teo cơ một bên (Bệnh Lou Gehrig)

3. Phân loại

Rối loạn ngôn ngữ Broca: Khả năng thông hiểu còn tốt, những khả năng diễn đạt kém, có thể nói được, nói nhát gừng và lặp lại yếu kém. Dạng này được đặc trưng bởi sự tổn thương tại các vị trí như vùng nắp trán, hồi trán giữa, vùng vỏ não vận động thấp.. Rối loạn ngôn ngữ dạng Broca có thể xảy ra ở người lớn sau khi bị chấn thương hay đột quỵ não

Rối loạn ngôn ngữ vận động xuyên vỏ: có khả năng thông hiểu và lặp lại ở mức độ ổn định nhưng lại không diễn tả được, lời nói, ngôn ngữ trở nên lộn xộn. Các tổn thương liên quan đến tình trạng này thường nằm ở bất cứ vị trí nào trên thùy trái

Rối loạn ngôn ngữ cảm giác xuyên vỏ: thường gặp ở những bệnh nhân gặp tổn thương tại vị trí nối giữa thái dương – đỉnh – chẩm phía sau hồi thái dương trên. Với dạng này trẻ có khả năng diễn đạt và lặp lại ổn, tuy nhiên khả năng thông hiểu lại rất yếu kém.

Rối loạn ngôn ngữ xuyên vỏ hỗn hợp: khả năng diễn đạt và thông hiểu còn ở mức độ tốt, tuy nhiên khả năng lặp lại kém. Các tổn thương liên quan đến tình trạng này có thể liên quan đến các tổn thương tại vùng vận động và vùng cảm giác.

Rối loạn ngôn ngữ Wernicke: còn gọi là rối loạn ngôn ngữ cảm giác, thường gặp do tổn thương tại vùng thái dương trên. Trẻ có thể giao tiếp lưu loát, phát âm bình thường, tuy nhiên gặp khó khăn trong việc hiểu người khác nói gì hay trả lời những câu hỏi của người khác.

Rối loạn ngôn ngữ dẫn truyền: liên quan đến các tổn thương khu trú ở tiểu thùy đỉnh dưới trái. Trẻ có khả năng diễn đạt và thông hiểu như bình thường, chỉ gặp khó khăn ở khả năng lặp lại, ví dụ như khi kể chuyện thường lộn xộn, không rõ ràng

Rối loạn ngôn ngữ toàn bộ: đây là một dạng đặc biệt nghiêm trọng, trẻ mất cả ngôn ngữ cảm giác và ngôn ngữ. Các tổn thương liên quan bao gồm cả một vùng lớn ở trung tâm nói ở vùng trước cùng vị trí rãnh vỏ não Rolando phía sau.

4. Lâm sàng & Cận lâm sàng

    4.1. Phát hiện sớm trẻ rối loạn ngôn ngữ

     Rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em thường liên quan đến các yếu tố bẩm sinh và liên quan đến nhiều hội chứng khác như tự kỷ hay tăng động. Do đó các biểu hiện thường xuất hiện khá sớm, thường là trong giai đoạn từ 12 tháng tuổi. Phụ huynh cần phải theo dõi sự phát triển của con để sớm phát hiện các triệu chứng bất thường và có những biện pháp can thiệp kịp thời. Cụ thể các triệu chứng RLNN thường gặp ở trẻ em bao gồm:

  • Trẻ không biết bi bô, 18 tuổi chưa biết nói từ đơn, 24 tháng tuổi chưa biết nói 1 câu đơn giản
  • Tự chơi 1 mình, không có hứng thú với các cuộc trò chuyện, không biết kết bạn
  • Cha mẹ gọi thường lơ đi, không nhớ nội dung cuộc trò chuyện
  • Bé biết tên hay không biết phân biệt các đồ vật đơn giản mà thường có xu hướng gọi bằng “cái này”, “cái kia” để thay thế.
  • Nhầm lẫn tên giữa các đồ vật, ví dị đôi đũa gọi là các bát
  • Không biết lặp lại từ cha mẹ dạy hoặc lặp lại một cách máy móc nhưng không hiểu ỹ nghĩa của câu nói
  • Nói năng lộn xộn, khó hiểu
  • Gặp khó khăn trong việc đọc hiểu hay tiếp nhận thông tin từ người khác
  • Dùng sai thành ngữ, tục ngữ.
  • Khó tập trung nghe người khác nói, nhất là khi có các tiếng ồn bên ngoài tác động
  • Vốn từ vựng ít ỏi, thường xuyên bỏ mất từ trong các cuộc trò chuyện
  • Không có khả năng xây dựng cuộc trò chuyện hay diễn đạt những mong muốn của bản thân

     Rối loạn ngôn ngữ ở người lớn thường xảy ra sau các chấn thương hay một vấn đề bệnh lý nào đó, các triệu chứng điển hình của  ở người lớn như:

  • Bỏ mất chữ và khó diễn đạt thành câu.
  • Có xu hướng nghiêm trọng hoá các câu nói bình thường tuy nhiên lại không biết diễn đạt các câu nói thế nào mặc dù trong đầu đã định sẵn câu trả lời.
  • Không theo kịp câu chuyện, không nhớ được các từ ngữ chuyên môn.
  • Giảm khả năng xây dựng các cuộc đối thoại, khó khăn khi phải thuyết trình hay kể cả trong những cuộc nói chuyện tán gẫu thường ngày.
  • Khó khăn khi phải đọc những hướng dẫn sử dụng và làm theo.
  • Có thói quen lặp lại câu hỏi và suy nghĩ rất lâu trước khi trả lời.
  • Có thể nói lắp hoặc không.
  • Thường kéo dài các từ và phát âm không rõ.
  • Không xác định được thời gian khi nói chuyện.
  • Thường xuyên kéo dài cuộc nói chuyện.

     Thoạt nhìn, trẻ tự kỷ không thể hiện bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ rối loạn này. Những trẻ có tỷ lệ cao những bất thường nhỏ trong cơ thể như điếc tai và những điều khác có thể biểu hiện những bất thường trong quá trình phát triển của các bộ phận cùng với những phần của não.

     Một lượng lớn trẻ tự kỷ không thể hiện thuận 1 tay mà duy trì thuận 2 tay khi mà não ưu thế đã được thiết lập ở phần lớn các trẻ. Trẻ tự kỷ có nguy cơ cao bị những bất thường ở dấu bàn chân hoặc bàn tay (dấu vân tay) hơn là dân số chung. Sự nghiên cứu này có thể gợi ý một rối loạn trong sự phát triển của ngoại bì thần kinh.

    4.2. Cận lâm sàng

  • Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu thường quy.
  • Điện não đồ, lưu huyết não, Điện tâm đồ.
  • Trắc nghiệm tâm lý: ASQ, RAVEN,…
  • Các xét nghiệm chuyên khoa khác.

5. Can thiệp sớm

     5.1. Nguyên tắc

  • Phát hiện sớm và can thiệp sớm, bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất: từ 2 – 4 tuổi.
  • Toàn diện và phù hợp với mức độ rối loạn.
  • Cải thiện diễn đạt và tiếp thu ngôn ngữ.
  • Tạo môi trường sống thích hợp cho trẻ.

    5.2. Can thiệp y học

    Không có thuốc đặc trị RLNN, nếu trẻ mắc RLNN do tổn thương chức năng não bộ hoặc bệnh lý có thể sử dụng các loại thuốc: thuốc tăng tuần hoàn máu, kháng sinh đề phòng bội nhiễm, thuốc chống động kinh,…

     Lưu ý: Việc sử dụng thuốc cần có sự thăm khám, chỉ định, hướng dẫn liều lượng của Bác sĩ, phụ huynh không tự ý mua thuốc cho trẻ uống.

    5.3. Can thiệp cá nhân và can thiệp tích cực

     Can thiệp theo liệu trình

  • Phục hồi chức năng.
  • Các bài tập cải thiện RLNN

     Mỗi học sinh được xây dựng theo một phác đồ riêng, lộ trình can thiệp phù hợp với mức độ rối loạn của trẻ, có báo cáo, đánh giá định kỳ.

     Tư vấn gia đình.

    5.3. Hỗ trợ can thiệp từ xa (hướng dẫn cho cha mẹ can thiệp sớm cho trẻ tại nhà):

     Phục hồi chức năng

     Các bài tập cải thiện RLNN

Phụ huynh có thể đăng ký tư vấn, đánh giá trẻ miễn phí cùng với chuyên gia của Trung tâm Can thiệp sớm Happy “Tại đây”

Th.S Nguyễn Tiến Đạt

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tâm lý – Giáo dục đặc biệt

Co-Founder Trung tâm Can thiệp sớm Happy

call-to-like

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *