Hướng dẫn chuẩn đoán và can thiệp tăng động giảm chú ý (ADHD – F90)

1. Tăng động giảm chú ý là gì?

     Rối loạn Tăng động giảm chú ý (Attention Deficit/ Hyperactivity Disorder – ADHD) là một rối loạn sức khỏe tâm thần bao gồm sự kết hợp của các vấn đề về giảm tập trung chú ý, tăng hoạt động quá mức, xung động thiếu kiềm chế. Khởi phát trước 7 tuổi và có xu hướng tiến triển kéo dài, trẻ mắc rối loạn ADHD thường gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh sự tập trung, khó kiểm soát những hành động thái quá, hay phấn khích, kích động,… Các rối loạn này thường gây hậu quả nặng nề đến học tập, làm việc và quan hệ xã hội của trẻ.

2. Nguyên nhân

     Nguyên nhân chính xác gây ra tăng động giảm chú ý chưa được sáng tỏ, những nỗ lực nghiên cứu vẫn tiếp tục. Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc ADHD bao gồm:

  • Di truyền học: ADHD có tính chất di truyền trong nhiều gia đình và các nghiên cứu đã chỉ ra gen có thể là một yếu tố gây bệnh.
  • Môi trường sống: Một số yếu tố môi trường cũng có thể làm tăng nguy cơ, chẳng hạn như tiếp xúc với chì khi còn nhỏ, cách giáo dục trẻ chưa đúng cách.
  • Vấn đề trong quá trình phát triển: Do tổn thương não, Mất cân bằng thần kinh (não) ảnh hưởng đến các vùng kiểm soát khả năng tập trung, lập kế hoạch và tổ chức,…

     Yếu tố nguy cơ

  • Có người thân mắc ADHD (như cha mẹ hoặc anh chị em ruột) hoặc mắc một rối loạn sức khỏe tâm thần khác.
  • Tiếp xúc với độc chất trong môi trường như chì, được tìm thấy chủ yếu trong sơn và ở các đường ống trong các tòa nhà cũ.
  • Mẹ sử dụng thuốc, uống rượu hoặc hút thuốc trong khi mang thai.
  • Mẹ tiếp xúc với các độc chất hiện diện trong môi trường chẳng hạn như polychlorinated biphenyls (PCBs) trong khi mang thai.
  • Sinh non.
  • Mặc dù đường là chất bị nghi ngờ hàng đầu trong việc gây hiếu động thái quá, nhưng không có bằng chứng đáng tin cậy nào chứng minh điều này.

3. Lâm sàng và cận lâm sàng

     3.1 Dấu hiệu nhận biết sớm

     Mỗi trẻ tăng động giảm chú ý là một cá thể riêng biệt với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng nhìn chung trẻ tăng động giảm chú ý sẽ có các biểu hiện sau:

 Nghịch ngợm, hiếu động thái quá
  • Khó có thể ngồi yên một chỗ trong thời gian dài, hay nghịch ngợm, ngọ nguậy liên tục, chạy nhảy, leo trẻo khắp nơi.
  • Thường xuyên di chuyển như thể “đang lái xe” hay “đang đi trên đường”.
  • Tự ý đi lại tự do trong những tình huống được yêu cầu phải ngồi tại một vị trí như đang học bài, ăn uống,…
  • Khó có thể tham gia các trò chơi cần đến sự nhẹ nhàng, kiên trì, nhẫn nại.
 Bốc đồng trong hành vi, suy nghĩ
  • Nói nhiều, hay ngắt lời, xen ngang vào những câu chuyện của người khác và thường buột miệng trả lời trước khi nghe hết câu hỏi.
  • Khó chịu, bực tức khi phải chờ tới lượt trong lúc chơi các trò chơi cùng bạn bè…
  • Tính tình nóng nảy, dễ tức giận, cáu gắt vô cớ, thậm chí có những hành vi quá khích như la hét, đánh bạn, hoặc tự làm đau chính mình.
Kém tập trung chú ý
  • Khó tập trung trong thời gian dài, thường bỏ lỡ các chi tiết và hay mắc lỗi.
  • Không chú tâm lắng nghe người khác nói, ngay cả khi đang nói chuyện trực tiếp.
  • Hay quên, làm thất lạc đồ chơi, dụng cụ học tập, đồ dùng cá nhân như bút, sách vở, chìa khóa, điện thoại…
  • Lảng tránh hoặc không thích thực hiện các công việc đòi hỏi sự cố gắng lâu dài như làm bài tập, chuẩn bị báo cáo,…
  • Dễ bị phân tâm bởi các kích thích bên ngoài, ví dụ như đang học bài mà có một người đi qua, một tiếng động nhỏ cũng có thể khiến trẻ mất tập trung.
  • Hay bỏ sót các hoạt động hằng ngày như quên đi học, quên đánh đánh răng, rửa mặt, quên làm việc nhà…
Một số biểu hiện khác
  • Rối loạn ngôn ngữ, chậm nói, nói ngọng, khả năng hiểu và diễn đạt kém.
  • Nhạy cảm quá mức với ánh sáng, âm thanh, tiếng động.
  • Dễ bị rối loạn giấc ngủ, mất ngủ, khó ngủ, trằn trọc, mộng mị, tỉnh giấc giữa đêm.

3.2. Cận lâm sàng

  • Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu thường quy.
  • Điện não đồ, lưu huyết não, …
  • Trắc nghiệm tâm lý: WICS, WAIS, Vanderbilt, RAVEN, …

4. Chẩn đoán xác định

Nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

  • Phải có cả hai tiêu chuẩn giảm chú ý và tăng động – xung động.
  • Cả hai rối loạn đều xuất hiện sớm trước 5 tuổi (ICD – 10), trước 7 tuổi (DSM – IV) và biểu hiện phải rõ rệt so với độ tuổi và thời kỳ phát triển.
  • Các rối loạn đó phải lan tỏa trong nhiều môi trường (gia đình, nhà trường, xã hội) và kéo dài ít nhất 6 tháng.
  • Phải có bằng chứng rõ ràng các rối loạn này ảnh hưởng bất lợi cho hoạt động xã hội, ảnh hưởng đến quan hệ bàn bè giảm sút khả năng học tập, trở ngại trong những việc làm phù hợp với tuổi phát triển.
  • ADHD không được chẩn đoán khi triệu chứng xảy ra ở trẻ em, trẻ vị thành niên hoặc người trưởng thành mắc rối loạn phát triển lan tỏa, tâm thần phân liệt hoặc rối loạn loạn thần khác.

Các tiêu chuẩn chẩn đoán

     Chẩn đoán tăng động giảm chú ý theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-TR-IV như sau:

     Giảm chú ý:

     Giảm chú ý có 6 (hoặc nhiều hơn) trong các triệu chứng sau của giảm chú ý, biểu hiện kéo dài ít nhất 6 tháng với mức độ làm trẻ thích ứng kém hoặc không phù hợp với mức phát triển tâm thần:

  1. Thường không thể chú ý kỹ lưỡng vào các chi tiết, hoặc phạm những lỗi do cẩu thả trong học tập, trong công việc hoặc trong các hoạt động khác.
  2. Thường khó khăn duy trì sự chú ý trong nhiệm vụ hoặc trong các hoạt động chơi.
  3. Thường biểu hiện dường như không lắng nghe những gì người khác nói trực tiếp với trẻ.
  4. Thường không thể làm theo toàn bộ những chỉ dẫn hoặc không hoàn thành bài tập, công việc trong gia đình, những nhiệm vụ ở nơi làm việc (không phải vì hành vi chống đối hoặc không hiểu được các chỉ dẫn).
  5. Thường khó khăn trong cách tổ chức công việc và các hoạt động.
  6. Thường tránh né, không thích hoặc miễn cưỡng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi phải duy trì những nỗ lực tinh thần (như làm bài tập trường hoặc ở nhà).
  7. Thường đánh mất những vật dụng cần thiết (như vở bài tập ở trường, bút chì, sách, đồ chơi và các dụng cụ khác).
  8. Thường dễ bị sao nhãng bởi những kích thích bên ngoài.
  9. Thường quên các hoạt động hằng ngày.
     Tăng động

     Tăng hoạt động: có 6 (hoặc nhiều hơn) trong các triệu chứng của tăng hoạt động – xung động phải xuất hiện ít nhất 6 tháng với mức độ làm trẻ thích ứng kém hoặc không phù hợp với mức độ phát triển tâm thần.

  1. Cử động chân tay liên tục hoặc không ngồi yên.
  2. Rời khỏi chỗ trong lớp hoặc trong các tình huống khác mà cần phải ngồi yên một chỗ.
  3. Thường chạy quanh hoặc leo trèo quá mức trong các tình huống mà điều đó là không thích hợp (ở thanh thiếu niên, có thể chỉ biểu hiện cảm giác bồn chồn).
  4. Thường khó khăn trong khi chơi hoặc gặp khó khăn trong các hoạt động yêu cầu giữ yên lặng.
  5. Thường hoạt động liên tục hoặc hoạt động như được “gắn động cơ”.

6. Can thiệp sớm

6.1. Nguyên tắc

  • Phát hiện sớm và can thiệp sớm, bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất: từ 2 – 4 tuổi.
  • Toàn diện và phù hợp với mức độ rối loạn.
  • Nâng cao kỹ năng xã hội cho trẻ.
  • Tạo môi trường sống thích hợp cho trẻ.

6.2. Can thiệp y học

  • Các thuốc này thuộc nhóm thuốc hướng tâm thần gây nghiện có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương như Dextroamphetamine dùng cho trẻ em trên 3 tuổi và methylphenidate cho trẻ em từ 6 tuổi trở lên với liều lượng được khuyến cáo cho kết quả tốt và không có nguy cơ gây nghiện.
  • Thuốc chống trầm cảm 3 vòng và nhóm ức chế chọn lọc tái hấp thu Serotonin: là lựa chọn thứ 2 sau các thuốc kích thích tâm thần cho những trường hợp kháng với các thuốc trên và kèm theo trầm cảm lo âu.
  • Clonidine: Đồng vận α-Adrenergic là lựa chọn thứ 3 và đối với các trường hợp kèm rối loạn Tic, hội chứng Gille de la Tourette và có những hành vi gây hấn.
  • Đối với các trường hợp có các rối loạn tâm thần khác kèm theo như: trầm cảm, rối loạn hành vi,… cần cân nhắc lựa chọn thêm các thuốc chỉnh khí sắc, chống trầm cảm kết hợp với các thuốc trên để điều trị cho thích hợp.

     Lưu ý: Việc sử dụng thuốc cần có sự thăm khám, chỉ định, hướng dẫn liều lượng của Bác sĩ, phụ huynh không tự ý mua thuốc cho trẻ uống.

6.3. Can thiệp cá nhân và can thiệp tích cực

  • 10 buổi trị liệu/ 1 đợt can thiệp (2 tuần), mỗi buổi kéo dài 2 giờ.
  • Liệu pháp trị liệu nhóm: can thiệp cho 1 nhóm gồm 4 – 5 trẻ bị ADHD.
  • Mỗi học sinh được xây dựng theo một phác đồ riêng, lộ trình can thiệp phù hợp với mức độ rối loạn của trẻ, có báo cáo, đánh giá định kỳ.
  • Tư vấn gia đình.

6.4. Hỗ trợ can thiệp từ xa (Hướng dẫn cha mẹ can thiệp sớm cho trẻ tại nhà):

  • Luôn đưa ra các quy tắc cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn. Trẻ cần hiểu rõ, chính xác cha mẹ mong muốn gì ở mình.
  • Hãy giao việc cho trẻ, điều này giúp trẻ có cảm giác về trách nhiệm và nâng cao lòng tự trọng của trẻ.
  • Lập một danh sách những việc phải làm để giúp trẻ nhớ.
  • Thói quen là điều đặc biệt quan trọng đối với trẻ
  • Tìm điểm mạnh của trẻ để khuyến khích, động viên trẻ.
  • Chấp nhận một số hạn chế của trẻ để thông cảm, tránh chế giễu trẻ.
  • Thường xuyên nói trẻ rằng bạn yêu và luôn sẵn sàng giúp đỡ trẻ.
  • Tạo cho trẻ chú ý nghe nhìn khi bạn nói
  • Nên cho trẻ chơi trò chơi tĩnh đòi hỏi tư duy, tránh chơi game, trò bạo lực.
  • Cho trẻ tham gia thể dục, thể thao vừa sức.
  • Luôn nhắc trẻ luật lệ, nội quy trước khi đên nơi công cộng.
  • Thái độ luôn kiên trì, khi dứt khoát, đôi khi ra lệnh. Giao việc có phần thưởng tích cực mỗi khi trẻ làm một điều đúng đắn.
  • Nếu trẻ mắc lỗi cần kiên trì nhắc nhở, giải thích, kiểm soát hành vi. Nếu không sửa lỗi có thể phạt bằng hình thức phù hợp như mất quyền lợi, thời gian tách biệt … Tránh đánh mắng trẻ.

Phụ huynh có thể đăng ký tư vấn, đánh giá trẻ miễn phí cùng với chuyên gia của Trung tâm Can thiệp sớm Happy “Tại đây”

Th.S Nguyễn Tiến Đạt

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tâm lý – Giáo dục đặc biệt

Co-Founder Trung tâm Can thiệp sớm Happy

call-to-like

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *